Untitled Document
Untitled Document
THÔNG TIN CHUNG
Trang chủ
Lịch sử hình thành
Ban Chủ nhiệm Khoa
Đội ngũ giảng viên
Công tác đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Hợp tác quốc tế
Cơ sở vật chất
Thư viện khoa
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
Thông báo
Văn bản - Biểu mẫu
Chương trình đào tạo
Luận văn tốt nghiệp
ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Thông báo
Quy định - Biểu mẫu
Đề cương chi tiết học phần
Chương trình đào tạo
Bảo vệ Luận văn - Luận án
Danh sách Luận văn - Luận án
Thông tin Luận án NCS
NGHIÊN CỨU KH - HTQT
Biểu mẫu
Hội thảo khoa học
Hợp tác quốc tế
Hợp tác trong nước
Seminar
Ấn phẩm
CÁC ĐƠN VỊ
Văn phòng Khoa
Khoa học cây trồng
khoa học đất
Công nghệ thực phẩm
Sinh lý Sinh hóa
Bảo vệ thực vật
Chăn nuôi
Thú y
Di truyền và Chọn giống Cây trồng
Trại Nghiên cứu & TNNN
Trung tâm Dịch vụ KHNN
ĐẢNG - ĐOÀN THỂ
Đảng bộ
Công đoàn
Đoàn thanh niên
Hội cựu sinh viên

Untitled Document
Thông tin luận án

Thông tin luận án của NCS. Phạm Thị Phương Thúy chuyên ngành Khoa học đất Khóa 2010
Ngày đăng tin: 08/04/2015

- Tên đề tài: Đánh giá khả năng cung cấp lân của đất trên một số vùng trọng rau màu trọng điểm ở Đồng bằng Sông Cửu Long
- Tác giả: Phạm Thị Phương Thúy
- Chuyên ngành: Khoa học đất
- Người hướng dẫn: PGs.Ts. Nguyễn Mỹ Hoa, Trường Đại học Cần Thơ

1. TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN ÁN:

Luận án được thực hiện nhằm: (1) Đánh giá hiện trạng bón phân lân tại 4 vùng trồng rau chuyên canh trọng điểm ở ĐBSCL; (2) Xác định hiện trạng chất lân và các thành phần lân trong đất theo Chang-Jackson và Hedley (3) Đánh giá sự hấp phụ lân trong đất (4) Đánh giá sự phóng thích lân trong đất và (5) Xác định sự đáp ứng của cây bắp đối với phân lân trong điều kiện nhà lưới và ngoài đồng. Nghiên cứu được thực hiện trên 123 mẫu đất trồng rau màu ở bốn tỉnh là Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long và Trà Vinh và 6 điểm thí nghiệm đồng ruộng được thực hiện tại xã Mỹ An huyện Chợ Mới tỉnh An Giang.

Kết quả nghiên cứu cho thấy: (i) Nông dân vùng trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL đã bón lân cao hơn so với khuyến cáo chiếm từ 50 – 80% số hộ khảo sát với lượng bón trung bình > 92,5 kgP2O5/ha trên các đối tượng rau màu chủ lực như bắp nếp, bắp rau, khoai lang, dưa leo. (ii) Trên các nhóm đất nghiên cứu như Fluvisols, Gleysols và Arenosols trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL, đa số có hàm lượng lân tổng số và lân dễ tiêu đạt mức giàu. Thành phần lân trong các nhóm đất trồng rau trọng điểm ở ĐBSCL chủ yếu là Fe-P > Ca-P> Al-P. Trong đó, thành phần lân NaHCO3-Pi có hàm lượng cao nhất trong thành phần lân dễ tiêu, thành phần lân  NaOH-Pi có hàm lượng cao nhất trong thành phần lân khó tiêu và có mối tương quan với lân dễ tiêu trong đất. (iii) Hàm lượng lân hấp phụ tối đa đạt từ 2.314 – 2.976 kgP2O5/ha trên nhóm đất có hàm lượng lân dễ tiêu thấp và đạt thấp trên nhóm đất có lân dễ tiêu trung bình và cao với hàm lượng lân hấp phụ tối đa đạt 622 – 2.314 kgP2O5/ha. Trong các tính chất lý hoá học đất thì các yếu tố pHH2O, % sét, sắt tự do, sắt vô định hình và lân dễ tiêu có hệ số tương quan chặt với hàm lượng lân hấp phụ tối đa trong đất. Độ bão hòa lân trên tất cả các nhóm đất đầu vụ là thấp từ 0,62 – 11,15 % chưa có nguy cơ rửa trôi lân ra môi trường nước. (iv) Hàm lượng lân phóng thích đạt thấp nhất trên nhóm đất có hàm lượng lân dễ tiêu thấp và đạt cao hơn trên nhóm đất có lân dễ tiêu trung bình và cao. Trong các tính chất hoá lý đất thì các yếu tố: lân tổng số, lân dễ tiêu; thành phần lân theo Chang – Jackson (Lân dễ tan trong nước, Al-P, Fe-P, Ca-P); thành phần lân theo Hedley (H2O-Pi, NaHCO3­-Pi,  NaOH-Pi) có hệ số tương quan chặt với hàm lượng lân phóng thích tối đa trong đất. (v) Trên các nhóm đất nghiên cứu có lân dễ tiêu >15 mgP/kg (Bray1) không có sự gia tăng năng suất bắp rau và bắp nếp khi bón phân lân ở thí nghiệm  nhà lưới trong 5 vụ canh tác và thí nghiệm đồng ruộng trong 2 vụ canh tác. Trên các nhóm đất có hàm lượng lân dễ tiêu thấp <7 mgP/kg bón lân có hiệu quả làm tăng năng suất trong thí nghiệm ngoài đồng với mức bón 90 kgP2O5/ha.

2. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN:

Nghiên cứu đã phát hiện có tích lũy lân cao trên nhóm đất Fluvisols, Gleysols và Arenosols tại các vùng trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL do bón nhiều phân lân, có 94,31% đất khảo sát có hàm lượng lân dễ tiêu trung bình đến giàu theo phương pháp Bray1.

Nghiên cứu cũng khẳng định thành phần lân vô cơ trong các nhóm đất trồng rau trọng điểm ở ĐBSCL chủ yếu là lân sắt chiếm tỉ lệ cao hơn so với lân nhôm và canxi. Thành phần lân bị hấp phụ hấp phụ hoá học trên bề mặt của các hợp chất oxide và hydroxide sắt, nhôm hoặc hấp phụ trên bề mặt ngoài của các phiến sét chiếm tỷ lệ cao và có mối tương quan chặt với hàm lượng lân dễ tiêu trong đất. Do đó có khả năng cung cấp lân tốt cho cây trồng khi nguồn lân hữu dụng bị cạn kiệt.

Khả năng cung cấp lân trên các nhóm đất có hàm lượng lân dễ tiêu Bray1 trung bình và cao (>15 mgP/kg) ở vùng trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL là đạt cao, thể hiện qua kết quả không đáp ứng của cây trồng khi bón lân, qua hàm lượng lân tổng số và lân dễ tiêu cao, các dạng lân dễ hữu dụng cho cây trồng như lân hoà tan trong nước, lân NaHCO3-Pi, sự hấp phụ lân thấp, do đó có thể bón lân ở mức rất thấp để duy trì hàm lượng lân trong đất.

3. CÁC ỨNG DỤNG/KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG THỰC TIỄN, NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU:

Kết quả của nghiên cứu có thể được áp dụng trên nhóm đất Fluvisols, Gleysols và Arenosols ở các vùng trồng rau màu khác nhau của ĐBSCL trong việc quản lý chất lân trong đất phù hợp, đáp ứng nhu cầu sinh trưởng và năng suất tối hảo của cây trồng và hạn chế nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Tiếp tục đánh giá sự tích lũy lân trong đất lúa, đất vườn cây ăn trái về khả năng đáp ứng đối với phân lân của một số loại cây trồng khác để làm cơ sở cho việc khuyến cáo sử dụng phân lân một cách hiệu quả.

Cần nghiên cứu biệp pháp tăng cường sử dụng lân lưu tồn trong đất hiệu quả để khuyến cáo áp dụng trong sản xuất.

>> Tải nội dung luận án tại website Bộ

Nguồn tin: http://gs.ctu.edu.vn/