Untitled Document
Untitled Document
THÔNG TIN CHUNG
Trang chủ
Lịch sử hình thành
Ban Chủ nhiệm Khoa
Đội ngũ giảng viên
Công tác đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Hợp tác quốc tế
Cơ sở vật chất
Thư viện khoa
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
Thông báo
Văn bản - Biểu mẫu
Chương trình đào tạo
Luận văn tốt nghiệp
ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Thông báo
Quy định - Biểu mẫu
Đề cương chi tiết học phần
Chương trình đào tạo
Bảo vệ Luận văn - Luận án
Danh sách Luận văn - Luận án
Thông tin Luận án NCS
NGHIÊN CỨU KH - HTQT
Biểu mẫu
Hội thảo khoa học
Hợp tác quốc tế
Hợp tác trong nước
Seminar
Ấn phẩm
CÁC ĐƠN VỊ
Văn phòng Khoa
Khoa học cây trồng
khoa học đất
Công nghệ thực phẩm
Sinh lý Sinh hóa
Bảo vệ thực vật
Chăn nuôi
Thú y
Di truyền và Chọn giống Cây trồng
Trại Nghiên cứu & TNNN
Trung tâm Dịch vụ KHNN
ĐẢNG - ĐOÀN THỂ
Đảng bộ
Công đoàn
Đoàn thanh niên
Hội cựu sinh viên

Untitled Document
Thông tin luận án

Thông tin luận án của NCS. Lâm Văn Tân chuyên ngành Khoa học đất Khóa 2010
Ngày đăng tin: 18/08/2015

- Tên luận án: “Đánh giá chất lượng môi trường đất, nước và xây dựng hệ thống canh tác thích hợp trên đất nhiễm phèn mặn ở huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
- Nghiên cứu sinh: Lâm Văn Tân
- Chuyên ngành: Khoa học đất
- Cán bộ hướng dẫn: GS. TS. Võ Thị Gương
- Thời gian: 14 giờ, ngày 05/9/2015
- Địa điểm: Hội Trường B007 - Khoa Nông nghiệp & Sinh học ứng dụng

1. TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN ÁN:

Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và sự giảm lưu lượng nước sông Mekong, sự xâm nhập mặn sâu vào nội đồng xảy ra tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre gây ảnh hưởng bất lợi trong sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân. Xây dựng các mô hình canh tác phù hợp với các tiểu vùng mặn, lợ và ngọt là vấn đề cần thiết được nghiên cứu nhằm giúp nông dân sống ở vùng ven biển có thể thích nghi và tăng thu nhập trong điều kiện thay đổi về môi trường đất, nước do tác động của xâm nhập mặn. Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm (1) Xây dựng các mô hình canh tác đạt hiệu quả kinh tế cao trên đất ven biển bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn; (2) Đánh giá biện pháp cải thiện năng suất cây trồng trên đất nhiễm mặn.

Trên vùng ngọt, các mô hình mới được xây dựng gồm lúa – bắp; cá lóc nuôi trên bể bạt; tôm càng xanh luân canh với lúa xen tôm càng xanh; tôm càng xanh nuôi trong mương vườn dừa. Trên tiểu vùng lợ, mô hình canh tác được xây dựng là tôm sú luân canh với lúa xen tôm càng xanh. Mô hình tôm sú trong mùa khô, tôm thẻ trong mùa mưa được xây dựng trong tiểu vùng mặn. Kết quả xây dựng mô hình được đánh giá hiệu quả kinh tế đạt được so với mô hình canh tác hiện tại.

Đánh giá môi trường đất, nước được thực hiện qua thu mẫu đất từ ruộng trồng bắp và các đáy ao tại các mô hình canh tác ở độ sâu 0 – 5 cm. Các chỉ tiêu đánh giá gồm pH đất, EC đất, Na trao đổi, phần trăm Na trao đổi. Mẫu nước được thu vào 3 đợt đầu vụ, giữa vụ, cuối vụ nuôi thủy sản. Các chỉ tiêu đánh giá gồm pH nước, EC nước, đạm hòa tan, lân hòa tan, độ kiềm, H2S, COD.

Đánh giá biện pháp cải thiện năng suất cây trồng, các thí nghiệm được thực hiện trong phòng, trong nhà lưới và thí nghiệm đồng ruộng. Thí nghiệm trong phòng nhằm đánh giá sự thay đổi đặc tính đất do ngập nước mặn trên đất phù sa ngọt với các nồng độ muối khác nhau: 2, 4, 6, 8, 10, 12 và 25‰. Một số đặc tính hóa học đất sau 2, 4, 6 và 12 tuần ngập mặn được ghi nhận. Thí nghiệm trong nhà lưới với mẫu đất được thu từ ruộng canh tác lúa trong mô hình tôm – lúa, nhằm đánh giá sự cải thiện đặc tính đất mặn qua sử dụng 5 tấn phân hữu cơ và 0,5 – 1 tấn vôi/ha trong điều kiện đất được ngập mặn 6‰, 5‰ và 3‰. Một số đặc tính đất được ghi nhận. Thí nghiệm đồng ruộng được thực hiện trên đất canh tác một vụ lúa nhằm đánh giá hiệu quả của phân hữu cơ 5 – 10 tấn/ha và vôi với lượng 0,5 – 1 tấn/ha trong cải thiện năng suất lúa và bắp.

Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường nước các mô hình canh tác có pH, độ mặn thích hợp cho tôm càng xanh phát triển nhưng nằm ở ngưỡng thấp đối với tôm thẻ và tôm sú. Độ kiềm, N hữu dụng, P hữu dụng đều ở ngưỡng thấp, COD thích hợp cho tôm càng xanh, tôm thẻ và tôm sú phát triển. Tuy nhiên, hàm lượng H­2S vượt hơn ngưỡng thích hợp để tôm sinh trưởng và phát triển.

Kết quả xây dựng mô hình canh tác mới phát triển tốt trong điều kiện tự nhiên ở vùng nghiên cứu. Các yếu tố thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức của từng mô hình canh tác được phân tích. Ở tiểu vùng ngọt, các mô hình tôm càng xanh trong mương vườn dừa, tôm càng xanh – lúa xen tôm càng xanh, cá lóc nuôi trong bể bạt, lúa – bắp giúp đạt hiệu quả kinh tế rất cao so với các mô hình hiện tại của nông dân. Tiểu vùng lợ, mô hình tôm sú luân canh với lúa xen tôm càng xanh cho hiệu quả kinh tế rất cao so với mô hình tôm sú – lúa mùa. Tiểu vùng mặn, mô hình tôm sú – tôm thẻ cho hiệu quả cao hơn mô hình tôm sú chuyên canh hai vụ trong năm như hiện tại. Do đó các mô hình canh tác mới cần được phát triển trên ba tiểu vùng sinh thái thuộc huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Kết quả nghiên cứu về sự xâm nhập mặn trong điều kiện phòng thí nghiệm cho thấy sau thời gian bị ngập mặn từ 2 đến 12 tuần, độ mặn của đất tăng với nồng độ mặn từ 2‰ trở lên. Đất bị sodic hóa sau 2 tuần ngập mặn ở độ mặn từ 6‰ và cao hơn. Bón phân hữu cơ và vôi giúp giảm độ mặn, giảm nồng độ Na trao đổi và giảm ESP trong đất, đồng thời tăng đạm hữu dụng, lân dễ tiêu, kali trong đất có ý nghĩa. Tuy nhiên cây lúa không thể phát triển. Với độ mặn 5‰ và giảm độ mặn vào giai đọan cuối, phân hữu cơ và vôi giúp lúa phát triển tốt và năng suất lúa được cải thiện có ý nghĩa. Ứng dụng kết quả này trong thí nghiệm đồng ruộng, qua một vụ canh tác, đặc tính đất mặn chưa được cải thiện rõ. Hiệu quả của phân hữu cơ và vôi thể hiện qua tăng năng suất lúa và năng suất bắp có ý nghĩa thống kê.

Tóm lại, các mô hình canh tác mới đạt hiệu quả kinh tế cao, thích hợp với điều kiện tự nhiên, cần được khuyến cáo, áp dụng vào thực tế sản xuất. Một số đặc tính bất lợi của môi trường nước trong nuôi thủy sản cần áp dụng biện pháp kỹ thuật để cải thiện. Cải thiện năng suất cây trồng trên đất nhiễm mặn nhẹ, nông dân cần bón phân hữu cơ 5 tấn/ha và 500 kg/ha vôi. Tuy nhiên thí nghiệm cần được thực hiện dài hạn hơn để đánh giá rõ hiệu quả cải thiện đặc tính đất và năng suất cây trồng trên đất nhiễm mặn.

2. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN

Đánh giá được yếu tố bất lợi của môi trường nước như hàm lượng H2S cao, nghèo dinh dưỡng ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm.

Xây dựng được các mô hình canh tác luân canh, xen canh giữa cây trồng và nuôi thủy sản, thích ứng trong điều kiện xâm nhập mặn trên vùng đất ven biển. Các mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao so với các mô hình canh tác hiện tại của nông dân gồm mô hình canh tác Tôm càng xanh xen canh trong mương vườn dừa; Tôm càng xanh luân canh với lúa xen tôm càng xanh; Tôm sú luân canh với lúa xen tôm càng xanh; Cá lóc nuôi trong bể bạt.

Đánh giá hiệu quả của phân hữu cơ và vôi trong giảm hàm lượng Na trao đổi và giảm sự sodic hoá trong đất do xâm nhập mặn, cải thiện sự phát triển và tăng năng suất lúa trong điều kiện thí nghiệm trong nhà lưới. Xác định hiệu quả của phân hữu cơ và vôi trong cải thiện năng suất lúa trong hệ thống Tôm – lúa trên đất bị nhiễm mặn trong mùa khô. Hiệu quả cải thiện năng suất bắp trong tăng thêm một vụ bắp thuộc mô hình Lúa một vụ.

3. CÁC ỨNG DỤNG/KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG THỰC TIỄN, NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp những thông tin cơ bản về các đặc tính môi trường đất, nước của các tiểu vùng sinh thái ngọt, lợ mặn; xây dựng được các mô hình sản xuất hiệu quả kinh tế cao. Đồng thời, cung cấp số liệu khoa học về ảnh hưởng của ngập mặn đến một số đặc tính đất, sử dụng phân hữu cơ và vôi trong giảm hàm lượng Na trao đổi và giảm sự sodic hoá trong đất do xâm nhập mặn. Bón phân hữu cơ và vôi nhằm cải thiện năng suất lúa và bắptrên vùng đất nhiễm mặn.

Các đặc tính môi trường như độ mặn trong các ao tôm nằm trong ngưỡng thấp đối với tôm thẻ và tôm sú, độ kiềm đều nằm ở ngưỡng thấp hơn ngưỡng sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi, hàm lượng H­2S vượt hơn ngưỡng thích hợp để tôm sinh trưởng và phát triển. Do đó, trong vụ nuôi cần áp dụng biện pháp kỹ thuật nâng cao nồng độ kiềm, giảm hàm lượng H2S, quản lý môi trường nuôi ổn định phù hợp cho tôm nuôi.

Các hệ thống canh tác vùng ngọt, vùng lợ, vùng mặn trong thử nghiệm mang lại hiệu quả kinh tế cao so với các hệ thống canh tác độc canh, truyền thống nên cần có dự án tiếp tục triển khai nhân rộng thích hợp từng hệ thống canh tác với từng tiểu vùng đối với vùng đất ven biển của huyện Thạnh Phú.

Đối với các hệ thống canh tác cây trồng thuộc tiểu vùng ngọt, đất bị nhiễm mặn cần áp dụng bón phân hữu cơ và vôi nhằm cải thiện độ mặn, ngăn ngừa sự sodic hóa trong đất và giúp tăng năng suất cây trồng.

Xem nội dung chi tiết về luận án

>> Xem thông tin đăng tải tại Website Bộ giáo dục và Đào tạo.

Nguồn tin: http://gs.ctu.edu.vn/